Chương 22. Độc thư nhân (hồi 2)
Hai thiếu niên ngồi tách biệt khỏi đám trẻ dưới gốc liễu thụ. Một người thần thái đoan trang, nghiêm túc, từng cử chỉ đều toát lên sự trầm ổn hiếm thấy ở người trẻ tuổi. Người kia hơi thở nặng nề, ánh mắt trĩu xuống, sắc mặt trắng bệch nhưng vẫn gắng gượng ngồi thẳng lưng.
Lão phu tử chậm rãi gấp sách lại. Đám trẻ theo đó mà chạy tán loạn. Phu tử vấn đáp thì có thể không biết, chứ tan học thì ai nấy đều tự hiểu.
Một nam hài tử da đen nhẻm quay đầu lại gọi lớn:
"Thẩm ca ca, chúng ta ra bờ suối ném đá đi!"
Người nọ mỉm cười nói:
"Cẩn thận dính nước mà cảm lạnh."
Đứa nhỏ khóe miệng rạng rỡ, làm lộ ra hàm răng sứt mẻ. Nó gật mạnh đầu rồi chạy theo đám bạn.
Thiếu niên mặc đồ ngủ hai tay chống lên đầu gối, loạng choạng đứng dậy. Người bên cạnh vội đưa tay đỡ lấy một bên cánh tay hắn. Cả hai cùng hướng về phía lão nhân chắp tay thi lễ.
Vị phu tử chắp hai tay sau lưng từ từ bước tới. Lão nhân râu tóc đã điểm bạc, hai hàng lông mày toát lên khí độ nghiêm khắc. Lão gật nhẹ đầu rồi cất giọng hỏi người trẻ tuổi xa lạ trước mặt:
"Được rồi, không cần nghiêm trang đến thế. Đọc sách bao lâu rồi?"
Bùi Cảnh nhẹ nhàng đáp lời:
"Điểm hỏa mới được hai năm."
"Đọc qua những sách nào rồi?" - lão nhân lại hỏi.
"Học trò nhập môn bằng quốc sử, học vấn chủ yếu lấy từ Sử Ký Toàn Thư. Hiện tại đang nghiền ngẫm Du Tiên Thi Thư."
Thẩm Trường Uyên nhìn sang thiếu niên. Dường như hắn cũng có vài câu hỏi dành cho người bên cạnh.
"Có cảm ngộ thế nào về Thi Thư?"
Bùi Cảnh thoáng ngập ngừng. Hắn im lặng vài tức rồi đáp:
"Thơ của Du Tiên tuy câu từ giản dị mộc mạc, hàm ý cũng không quá khó nắm bắt, nhưng lại rất tràn đầy cảm xúc. Núi, nước, mây... mọi thứ trong thơ của người không nhiều thì ít đều chứa đựng chút tâm tình. Nổi bật hơn cả có lẽ là cái man mác buồn khó nói thành lời."
Vị phu tử gật gật đầu:
"Người trẻ tuổi cố gắng đọc nhiều sách chút. Không lãng phí đâu."
Nói đoạn, lão nhìn về phía người kia:
"Tiểu tử ngươi coi như nhặt được món hời lớn."
Lão nhân nhấc chân rời bước, trước khi đi còn để lại một câu:
"Người quân tử có thù chưa chắc phải báo, nhưng có ân tất phải trả. Đừng làm mất mặt người đọc sách."
Nhìn theo bóng lưng lão phu tử, Bùi Cảnh không nhịn được mà hỏi:
"Vị này là?"
"Phu tử họ Đổng, bá tánh ở đây thường gọi lão nhân gia người là Đổng lão."
Bùi Cảnh ngẩn người. Thẩm Trường Uyên mỉm cười giải thích:
"Dân phong mộc mạc chất phác, trọng tình nghĩa mà không quá coi trọng lễ nghi quy củ. Hơn nữa, ông ấy cũng không thích người khác suốt ngày treo mình lên hai chữ 'phu tử'."
Dừng lại thoáng chốc, người nọ lại tiếp tục:
"Trước đây Đổng lão từng đến gõ cửa từng nhà có con nhỏ, thuyết phục cha mẹ chúng theo ông đọc sách viết chữ. Bất kể lớn nhỏ, nam nữ đều thu. Hơn nữa còn dạy không công, một văn cũng không nhận. Cho nên người trong thôn rất mang ơn lão nhân gia người."
Hai người ngồi lại xuống ghế dài. Bùi Cảnh trầm ngâm:
"Một vị phu tử đáng kính."
Thẩm Trường Uyên nhìn vào dáng vẻ vô lực của Bùi Cảnh, lại hỏi:
"Ngươi vì sao bị thương nặng đến thế?"
Thiếu niên cười khổ. Mới mấy ngày trước, bên trong kiếm khí thủy mặc đồ, gã kiếm khách ngồi đối diện hắn từng hỏi qua:
"Đã quyết định rồi? Đau đớn lần này sẽ không như mọi khi đâu. Ngươi có thể sẽ mất luôn con đường phía trước."
Người trẻ tuổi ngồi khoanh chân, đưa hai bàn tay lên nhìn chằm chằm không nói một lời. Trầm tư một hồi, hắn quy về tư thế thiền định, hai mắt nhắm chặt, tinh thần kiên định chưa từng thấy.
Lý Thiên Thu thở dài một hơi. Cảnh vật xung quanh, cây cối, đất đá... bỗng nhiên tan thành khói bụi. Vô số luồng kiếm khí màu xám đen theo đầu ngón tay hắn chỉ hướng tụ lại trên đầu, thành đám mây vòng xoáy như một cơn bão.
Thoáng chốc, từ tâm cuồng phong kiếm khí, một đạo hắc tuyến giáng một đòn mạnh mẽ thẳng xuống thân hình thanh y mỏng manh của người kia.
Bùi Cảnh lập tức thổ huyết, thân thể căng cứng. Hắn ngửa cổ gào lớn không thôi. Hai bàn tay đặt trên đầu gối siết chặt thành nắm đấm. Từng đường gân và mạch máu ở cổ lộ rõ, chằng chịt nứt toác từ trên mặt trở xuống. Khóe miệng, một bên mũi và hai bên tai đều rỉ máu.
Sâu trong kinh mạch chấn động dữ dội. Huyết dịch như dòng suối nhỏ cuốn theo kiếm khí tản đi toàn bộ cơ thể, ngấm cả vào trong cốt tủy. Tới đan điền, chỉ thấy một luồng khí màu xanh lá mạ kỳ lạ tạo thành quả cầu bao bọc lấy tâm hồ nhỏ bằng cái bát của hắn khỏi những đợt công kích của kiếm khí.
Cơn đau kéo dài không dứt. Từng khắc trôi qua giống như cả một đời người. Ngay trong lúc gần mất ý thức, hình ảnh đứa nhỏ với nụ cười động lòng người ấy, tay cầm chiếc chong chóng giấy chợt lóe lên trong đầu thiếu niên.
"Thúc thúc, người xem. Nương con tự tay làm đó."
"Thúc thúc, cái này tặng cho người."
"Thúc thúc, nhớ quay về thăm con nhé!"
Hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má chằng chịt vết thương của người trẻ tuổi. Hắn cắn chặt răng, gắng gượng nặn ra một câu:
"Ta còn nợ chưa trả. Ta không thể gục!"
Chẳng biết đã trôi qua bao lâu, tầm mắt thiếu niên dần mờ đi rồi chìm hẳn vào trong bóng tối vô tận. Mở mắt ra thì đã thấy mình đang nằm trong căn phòng nồng nặc mùi dược liệu.
Vị công tử nọ nghe tới đây lòng bàn tay liền ướt đẫm mồ hôi. Thật sự có người vì người khác mà liều mạng đến vậy sao? Nhìn lại bản thân ta, nếu so với hắn thì có khác gì sợi bún?
"Bùi huynh thật đáng khâm phục. Thẩm mỗ hổ thẹn không bằng." - hắn cảm khái.
Người kia mỉm cười:
"Thẩm công tử quá lời rồi. Ta nào có tài giỏi đến vậy."
Như chợt nhớ ra điều gì đó, Bùi Cảnh quay sang hỏi nhỏ:
"Thẩm công tử hình như không phải người bản địa?"
Người kia nghe vậy liền nhíu mày, trong lòng tràn ngập sự cảnh giác. Hắn không đáp lời, ánh mắt do dự không dứt.
Biết mình vừa hỏi điều không nên hỏi, Bùi Cảnh đành buông bỏ cái tò mò này:
"Ta lỡ lời rồi, Thẩm công tử chớ để ý. Ta chỉ là..."
Không chờ hắn nói hết câu, Thẩm Trường Uyên đã cất lời:
"Ta là người Bắc Tấn."
Dứt lời, hắn liền trấn tĩnh lại. Ta vừa mới nhận ân tình, giờ lại trước mặt họ che che giấu giấu. Thế thì ta còn tu cái gì chính khí nữa.
Bùi Cảnh có chút ngoài dự liệu. Hắn bỗng hỏi một câu khiến người bên cạnh bất ngờ:
"Nghe nói Long Đỉnh Trà của quý quốc hương vị vô cùng tuyệt hảo, không biết giá cả thế nào? Lão sư của ta thích uống trà nhất, ta muốn mua một ít hiếu kính người."
"Ngươi... không ngại thân phận của ta sao?" - Thẩm Trường Uyên nhỏ giọng hỏi.
Người nọ thần sắc nghiêm túc, hỏi ngược lại:
"Xin hỏi Thẩm công tử tới Thanh Nhung quốc đã từng giết người phóng hỏa, hoang dâm tàn bạo, hành hung cướp giật?"
"Đương nhiên chưa từng."
"Thế thì chúng ta còn ngại ở ngươi điều gì? Chỉ vì Thẩm công tử là người Bắc Tấn quốc sao?"
Hắn lắc đầu cười ha hả rồi nói tiếp:
"Người Thanh Nhung ta rất hiếu khách đấy. Cho dù Thẩm công tử là người từ trên trời rơi xuống, chúng ta vẫn là lấy chân thành đối đãi."
Thẩm Trường Uyên đôi mắt tràn ngập ánh sáng, đứng dậy hướng thiếu niên cúi đầu thi lễ. Người nọ đưa tay nâng cánh tay đối phương lên rồi nói:
"Thẩm công tử không cần như thế. Không phải riêng ta, hầu hết mọi người ở đây đều sẽ có suy nghĩ này."
Thẩm Trường Uyên nói:
"Bùi huynh không cần gọi ta là công tử. Cứ gọi thẳng tên ta, hoặc là giống như ta xưng hô với huynh."
"Được. Thẩm huynh có biết nơi nào cao ráo yên tĩnh một chút gần đây không? Ta muốn đi hóng gió một chút, tiện làm quen với phong vị nơi đây."
Người kia gật đầu:
"Ta biết có một gò núi không cao lắm nhưng phong cảnh thoáng đãng, thích hợp điều hòa tâm thái. Ta dẫn huynh đi."
Hai người sánh vai rời bước. Thẩm Trường Uyên cố ý đi chậm để đợi bước chân người kia. Họ vừa đi vừa trò chuyện, người hỏi người đáp. Đoạn đường này tuyệt không nhàm chán.
"Bùi huynh, Sử Ký của Thanh Nhung quốc huynh đã đọc qua. Theo huynh, muốn thắng một trận giao chiến giữa hai quân thì cái gì mới là quan trọng nhất?"
"Thẩm huynh đã sớm biết câu trả lời, cớ sao còn hỏi ta?" - Bùi Cảnh hỏi ngược lại.
Người kia lại tiếp tục:
"Vậy làm thế nào để tập hợp được dân tâm? Lại duy trì sự nhất quán đó bằng cách nào?"
Bùi Cảnh cười khổ không thôi:
"Ta lại không phải thống lĩnh hay đại tướng quân a."
"Cứ nói theo cách nhìn của huynh là được."
Nhận thấy đôi mắt mong chờ kia đang nhìn chằm chằm vào mình, Bùi Cảnh bất lực đành phải trả lời:
"Theo huynh, quân binh hai bên giao tranh vì mục đích gì? Ta đoán phần lớn là vì tranh giành lãnh thổ đúng chứ?"
"Đúng là như vậy." - người kia đáp.
Thiếu niên tiếp tục:
"Vậy đến đây lại chia làm hai hướng cơ bản. Một bên xuất binh vì muốn chiếm đất lên ngôi, bên còn lại thì chỉ muốn bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Nếu huynh đặt mình ở bên chủ động thì câu chuyện đến đây kết thúc. Còn nếu huynh ở bên thứ hai bị động, thì điều duy nhất có thể tập kết dân tâm, quân tâm chính là sự tự do và tự tôn của họ."
"Thử hỏi khi nơi mà họ an cư lạc nghiệp bị đánh chiếm, thân nhân quyến thuộc cả nhà ly tán, cơ nghiệp trọn đời bị hủy sạch thì họ có ngồi yên được không?"
"Chính tâm, chính danh sao?" - Thẩm Trường Uyên tự hỏi chính mình.
"Thẩm huynh cơ trí hơn người, nhanh vậy đã nhận ra điểm mấu chốt. Nhưng nói là một chuyện, bắt đầu từ đâu lại là một chuyện khác."
Thẩm Trường Uyên lại cau mày lắc đầu rồi rơi vào trầm mặc. Thấy vậy, Bùi Cảnh hỏi:
"Huynh sao thế? Còn khúc mắc gì sao?"
Người kia im lặng không nói. Không phải hắn vô lễ, mà thực sự hắn đang quá tập trung vào mạch suy nghĩ.
Mặc người bên cạnh đang nghĩ gì, thiếu niên vẫn tiếp tục đưa ra câu trả lời:
"Thực ra còn một hoàn cảnh khiến hai quân phải đối đầu nhau, đó chính là..."
"Huynh đệ tương tàn?" - Thẩm Trường Uyên cắt ngang lời Bùi Cảnh.
Bùi Cảnh đáp:
"Đúng vậy. Cho nên lúc này 'chính tâm, chính danh' lại càng quan trọng, nhưng khởi điểm lại hoàn toàn khác với hoàn cảnh trước đó. Kẻ nào làm được nhiều điều lợi cho dân hơn, yêu dân thương dân hơn thì kẻ đó thắng."
Ngập ngừng vài tức, Bùi Cảnh lúc này mới nói:
"Tất nhiên đó chỉ là suy nghĩ của riêng ta. Huynh không cần coi đó là chân lý. Nếu nói về thuật trị quốc thì huynh nên hỏi Hứa cô nương. Nàng ấy tường tận hơn ta."
"Là vị hay đi bên cạnh ca ca huynh đấy hả?" - Thẩm Trường Uyên hỏi.
Bùi Cảnh gật đầu.
"Nếu trong hoàn cảnh đó có một bên là người nhà của huynh thì huynh sẽ làm thế nào?"
Bùi Cảnh có chút bất ngờ, liền tròn xoe mắt nhìn sang hắn. Tên kia cố tình làm ngơ ánh mắt của Bùi Cảnh. Thiếu niên ngẫm một hồi rồi nói:
"Đương nhân, bất nhượng ư sư."
Thẩm Trường Uyên lúc này chợt mỉm cười. Đôi bằng hữu mới quen cứ thế chầm chậm đi về phía mặt trời lặn.
Chẳng biết đã đi bao xa, hai người cuối cùng dừng chân bên một sườn dốc nhỏ. Thẩm Trường Uyên đưa tay chỉ lên phía trên:
"Chính là nơi đó. Ta thường ngồi một mình ở đây."
Người nọ đỡ lấy cánh tay Bùi Cảnh rồi cùng nhau đi lên. Đến nơi, trước mắt hai người là một tảng đá lớn, bề mặt nhẵn nhụi vì sương gió. Ngồi đây có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn trọn vẹn cảnh sắc phía sườn núi bên dưới. Bùi Cảnh không nhịn được mà cảm thán:
"Thật dễ chịu. Quả là phong thủy bảo địa a."
Người kia lên tiếng:
"Ta vô cùng tán thành với hướng suy nghĩ của huynh vừa nãy. Chỉ có điều nên bắt đầu từ đâu ta vẫn chưa tìm ra."
"Thuyền đến đầu cầu tự nhiên thẳng. Thẩm huynh không cần lúc nào cũng để trong lòng."
Người kia gật đầu không nói. Cả hai cùng phóng tầm mắt về phía xa, an nhàn hưởng thụ sự thoải mái hiếm có mà thiên địa ban tặng.
Bỗng từ phía dưới mảnh bình địa, một nam tử khuôn mặt thanh tú, thoạt nhìn còn khá trẻ, đầu đội Thám Hoa quan, toàn thân hồng y xách theo một chiếc giỏ chậm rãi dắt ngựa đi tới bên dưới một gốc cây cao. Thẩm Trường Uyên lên tiếng hỏi:
"Xuân Thu Trường đã yết bảng rồi sao?"
Bùi Cảnh đáp:
"Chắc là thế. Dù sao mỗi kỳ khảo thí đều diễn ra rất nhanh chóng, từ lúc vào thí trường đến lúc yết bảng đều không quá một tháng."
"Hắn chắc là Thám Hoa kỳ này. Lấy được hạng ba Đại Triều Thí không dễ chút nào, người này học vấn sâu không lường được."
Bùi Cảnh chỉ "ừm" một tiếng. Hai người tiếp tục im lặng quan sát.
Chỉ thấy người kia dừng lại trước một bia mộ ngay dưới tán cây. Hắn đặt chiếc giỏ xuống đất, ngồi xuống, tháo mũ đặt bên cạnh rồi đưa tay nhặt đám cỏ dại mọc um tùm trên mô đất nhỏ. Người ấy cuốn tà áo đỏ chót vào lòng bàn tay rồi nhẹ nhàng lau tấm bia đá. Trên đó khắc vài chữ: "Ân sư Hoàng Nguyên Thành chi mộ".
Nam tử vén tấm vải che chiếc giỏ, lấy ra một đĩa hoa quả đặt phía trước và một bầu rượu. Hắn rải rượu xuống đất rồi đặt vò bên cạnh tấm bia. Người nọ cất giọng trầm ấm:
"Lão sư, con về rồi đây. Lần này con lấy được hạng ba, không làm người mất mặt chứ?"
Dứt lời, hắn dần dần rơi vào trầm mặc. Ngày đó cũng tại nơi này, hai sư đồ một lớn một nhỏ cùng ngồi bệt trên nền cỏ. Người đàn ông tuổi đã xế chiều đưa đôi bàn tay gầy gò xoa nhẹ lên mái tóc xanh của cậu bé mười hai tuổi. Đứa nhỏ gấp cuốn sách đang xem lại, vỗ ngực đảm bảo:
"Lão sư, Xuân Thu Trường sau này con nhất định kim bảng đề danh. Nếu may mắn lấy được cái danh Trạng Nguyên, người làm thầy như người nằm mơ cũng có thể cười tỉnh."
Người kia hết mực hiền từ, ôn tồn bảo:
"Nếu có ra làm quan thì thay vi sư tạo phúc một phương. Chẳng may có rớt bảng cũng không sao, một bụng học vấn vẫn còn đó. Đừng quên những gì ta đã dạy con."
Chàng trai liền mất kiên nhẫn:
"Con biết rồi, biết rồi. Nhân khả vô danh, bất khả vô đức. Ngày nào lão sư cũng lảm nhảm bên tai, con có thể quên được sao?"
Lão nhân gõ nhẹ ngón tay lên trán thiếu niên, trên khuôn mặt nhăn nhúm vẫn lưu lại nụ cười hài lòng.
Nhớ về những năm tháng đẹp đẽ ấy, nam tử cố gắng nhếch khóe miệng. Nhưng nụ cười này lại không dễ chịu chút nào. Hắn run giọng:
"Lão sư, công danh của con hiện tại cao hơn cái danh tú tài năm xưa của người không ít a. Ai hỏi con danh sư là ai, con đều dõng dạc trả lời 'gia sư Hoàng Nguyên Thành' học vấn cực đại. Danh sư xuất cao đồ mà thôi."
Nói đến đây, người nọ hai mắt đỏ hoe, nước mắt không kìm được mà từ cằm nhỏ xuống từng giọt. Hắn quỳ gục đầu xuống, tiếng nức nở càng ngày càng rõ. Hai bàn tay đặt trên đất liền nắm chặt, nam tử vừa khóc vừa nói:
"Lão sư, người từng nói 'Nhân khả vô danh, bất khả vô đức'. Thế nào là danh, thế nào là đức, học trò vẫn chưa hiểu. Người giảng lại cho ta một lần nữa đi..."
"Một lần nữa thôi mà."
Khung cảnh thanh bình xung quanh cứ thế vì tiếng khóc thương tâm của người nọ mà nhuốm một màu ảm đạm bất đắc dĩ.
Trên gò núi, hai thiếu niên đưa mắt nhìn nhau, không ai nói lời nào. Một màn này khiến Bùi Cảnh không khỏi nhớ tới hai câu trong Thi Thư:
"Thiên địa bản vô cảm,
Nhân ưu cảnh diệc sầu."